CHÀO MỪNG CÁC BẠN ĐẾN VỚI " CHUNG MỘT MÁI TRƯỜNG" CHÚC CÁC BẠN MẠNH KHỎE,VUI VẺ VÀ HẠNH PHÚC.
Hiển thị các bài đăng có nhãn BÀI ĐỌC HAY. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BÀI ĐỌC HAY. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 19 tháng 11, 2014

QUÝ VỊ THẦY CÔ CỦA TÔI

Trong ngày NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11,học trò viết những bài văn cảm tạ công ơn giáo dục của Thầy Cô đã là một điều đáng quý.Hôm nay chúng ta được đọc một bài viết của Thầy Lâm Khương Nhàn cảm tạ Thầy Cô của mình thì thật là một điều đáng trân trọng.
Thầy Lâm Khương Nhàn
Hàng năm, đến ngày 20-11, ngày Nhà Giáo Việt Nam, như thông lệ, các học trò thường kéo nhau đến nhà Thầy Cô giáo của mình để thăm viếng và tỏ lòng biết ơn công lao giáo dưởng của quý Thầy Cô. Năm nay (2014), ngày Nhà giáo Việt Nam, tôi- LK Nhàn, cựu Thầy Giáo, phá lệ- ghé viếng thăm “ nhà” của các em cụ-học-trò của tôi đây. Tuổi cao, chân yếu, nên khởi hành sơm-sớm một chút  cho kịp chuyến hành trình dự định 4 nơi : ngôi nhà tri-thiên-mệnh,  túp lều khúc-nghêu-ngao, chung-một-mái-trường và tiện thể ghé qua thăm viếng ngôi nhà bé bé xinh xinh nhớ-để-yêu-thương.
Quà cáp thì chẳng có tiền mua, xin gửi các em món quà “ văn nghệ” nầy vậy: chuyện kể về quý vị Thẩy Cô của tôi…hồi nửa thế kỷ trước. Riêng phần quà cho túp-lều-nghêu-ngao có nhiều hơn một chút, đó là bài văn Cẩn-điếu Phan-ân-sư (Thầy Phan Văn Dật, thầy của tôi).

QUÝ VỊ THẦY CÔ CỦA TÔI
Đây Viện Hán Học, đây cửa Khổng sân Trình.
Ngàn dặm xa xôi anh em sĩ tử miền Nam chúng tôi hội tụ về đây tu chí lập thân. Mà chẳng sai chút nào đâu; nơi đây, chúng tôi được  các bậc hiền sĩ ( đúng nghĩa ), uyên thâm tinh túy cỗ học phương Đông thật hiếm hoi còn sót lại từ thời phong kiến khoa bảng. Các cụ Hàng Ngại, cụ La Bột, Cha Thích…áo dài khăn đóng uy nghi mỗi khi đứng lớp. Bút lông thịnh hành ngày nào thời khoa cử, mà chỉ còn thấy lởn-vỡn trong các câu lạc bộ thư pháp hay trong lăng miếu, đường phố những ngày Tến nhứt đầu năm…Thì nơi nầy, Viện Hán Học- thầy trò chúng tôi ngày ngày nắn nót, chăm chỉ từng đường nét , dấu chấm phá sao cho chữ thánh hiền, lời triết nhân  đan xen bộc bạch thật tròn vẹn ý nghĩa.
Sinh viên chúng tôi cũng được giồi trau kiến thức thật sâu về triết học, về lịch sử đông tây kim cỗ …mà cũng nắm bắt vững vàng ngoại ngữ Anh Pháp.
*NH 01-Quý Thầy giảng dạy tại Viện Hán Học Huế. Ảnh chụp năm 1962
Viết đến đây, tôi chạnh lòng nhớ đến quý Thầy của tôi.
Từ khi gửi áo thư sinh lại trường ( Viện Hán Học), năm 1965 tôi về dạy học tại Phước Tuy ( Bà Rịa), rồi Vũng Tàu…đã 50 năm . Suốt thời gian ấy, trong cương vị người Thầy, quanh tôi là bằng hữu, là học trò. Thầy theo cái nghĩa “ tam-nhân-đồng-hành…” thì tất có nhiều rồi, còn thực sự thầy-dạy-học-tôi thì không có!.
Trong cái bộn bề lo toan cuộc sống của thời khi còn là trụ cột gia đình về kinh tế, thời gian và tâm trí nào còn đâu để  mong tìm về thăm thầy cũ.Bây giờ đây, đã thực sự được quẳng-gánh-lo-đi rồi, tôi ( và các bạn, các anh chị cũng vậy thôi ) mới nghe nhớ, nghe thương, nghe thiếu lắm, lỗi lắm phận làm trò của mình, đối với các vị thầy khả kính của đời ta.
Chưa bắt liên lạc được với các anh chị cựu sinh viên viện Hán Học Huế, mãi đến năm 2012 tôi mới dự được lần họp-bạn-đồng-môn đầu tiên tại Mỹ-Tho, do anh Ngô Văn Tiên K2 và Phạm Văn Minh K2 gửi thư mời. Rồi tiếp đó là ở nhà chị Sương K2 ( Bình Dương- 2013), Vũng Tàu (12-2013)…Từ đó đến nay, tôi biết được nhiều hơn, “thấy” được nhiều hơn về gia đình Viện Hán Học Huế chúng ta…trên trang blog vhp.Havu. Tin Thầy, tin bạn kẻ mất người còn, già đau bệnh yếu…thương-nhớ quá đi thôi. Cám ơn chị Hồng Phi (K2), tuổi cao mà chí thì còn cao hơn, lập ra trang blog Havu, coi như sân vườn nhà, anh chị em gia đình Hán Học chúng ta có nơi mà hội tụ, hàn huyên vung vít, dù kẻ chân trời người góc biển. Thầy cô chúng ta đó, thầy Võ Như Nguyện- tuổi tròn trăm mà complet veston hẳn hoi; cô vẫn sang trọng với chiếc áo dài truyền thống, đài-các quý phái như thuở nào cung cách của một mệnh phụ phu nhân. Bên trời Mỹ xa xôi lắm lắm, có mấy trò được cơ hội viếng thăm, dù có điều kiện về kinh tế, nhưng tuổi đã vào hàng bảy, hàng 8 hết rồi Thầy ơi, mong thầy hiểu cho tấm lòng của chúng con, những nhà giáo hậu duệ truyền nhân của Thầy. Chúng con kính lời thăm Thầy Cô ạ!.
* Ảnh 02-Thầy(+Cô) Võ Như Nguyện, năm 2000 tại Mỹ(thầy 85 tuổi).
Chuyện kể về Thầy, hồi ức nhắc về Thầy nhiều nhiều lắm. Các anh, các chị những khóa trên có bài viết chi tiết, cụ thể, rõ ràng về Thầy Võ Như Nguyện ngày xưa ở Viện Hán Học. Thầy không chỉ là bậc tôn sư uyên bác khả kính, Thầy còn là vị Giám Đốc một thời, dốc tâm dốc sức gầy dựng và phát triển Viện, với ước vọng duy trì và phát uy tinh hoa cổ học, văn hóa Đông phương thâm thúy, nhân bản…mà nếp sống của mọi con người tốt( tự nhận hoặc được nhìn nhận ) trên trái đất nầy gần như tự cảm thụ và hành xử theo ( như một “ đạo” vậy mà ). Thầy còn như là người cha, thầy coi đám sinh viên như con cái trong nhà, thầy quan tâm thương mến, giúp đở thiết thực theo từng trường hợp: đứa cần cái ăn, đứa không chỗ ở…thầy đều biết và thu xếp hỗ trợ kịp thời. Thậm chí, đám sinh  viên miền Nam chúng tôi hàng mấy chục, Thầy nhớ tên gần hết và nhiều lần thầy kêu về nhà dùng buổi cơm chung với gia đình Thầy -“ …cho mấy con đỡ nhớ nhà…!”.Chúng con biết ơn Thầy nhiều lắm lắm Thầy ơi.
* Ảnh 03- Thầy Võ Như Nguyện năm 2013 tại Mỹ ( 99 tuổi ta )
 Bài viết của bạn Nguyện Đăng Vận, cùng K4 với tôi, kể thật chi tiết về tất cả các thầy, các hồi ức trường lớp, bạn bè thật quá xá đủ rồi .Gần như ký ức của bạn Đăng Vận đã bao trùm toàn bộ nội dung, những vụ việc diễn ra không những với riêng tôi, mà với tất cả các bạn đồng lớp K4 chúng ta một thời rồi vậy ( xem tại blog vhp.havu ……… …).
Vài chi tiết trong bài viết đó, tôi tâm đắc quá nên mạn phép bạn Vận, tôi kễ lại ra đây để cùng nhớ, Vận nhe. Một là hình ảnh Thầy Nguyện bệ vệ ở văn phòng giám đốc, khác hẳn Thầy-Nguyện-Ông-đồ mỗi khi có giờ, vào lớp dạy chúng ta môn tập viết bút lông. Hình ảnh thầy Nguyện thân thiện quá, xuống đến từng bàn, khom người, cầm tay chấp bút chỉ vẽ cho trò nầy trò nọ đường ngang, dấu chấm, đá móc…Thầy dạy chúng ta tập tễnh đồ-chữ-nho! Hiện nay ( 2014 ) Thầy Cô vẫn khỏe manh và đang định cư ở nước ngoài          ( Mỹ ). Hồi Tết năm 2013, tuổi đã 99 ( Thầy sinh năm 1915 ), Thầy vẫn còn gửi thư chúc Tết các môn sinh của Thầy…
Hai là Cô Trang, giáo sư Pháp văn. Bạn Vận dùng chữ “ nhiếc mắng-nặng-lời”…đúng quá đi thôi. Cô Trang  trẻ đẹp, sang trọng, thời trang rất model, đi dạy bằng ô tô riêng…và là giáo sư nữ duy nhất của viện Hán Học nữa. Những cái thật-riêng đó tạo nên một hình tượng cũng rất-riêng khó quên về cô Trang trong mỗi mỗi sinh viên viện Hán Học, chứ không riêng ở K4 chúng ta, phải vậy không Vận?. Phong Cách rất Tây, nhanh nhẫu từ đi đứng cho đến ngôn từ, nên chi các cụ đồ-già ( quý Thầy), các cụ đồ-non (các sinh viên) đều không quen-mắt, thấy gai-gai sao ấy. Trong số “ bị-nhột-mắt-nhất ”  chắc là bạn Vận mình, nên chi các “ từ” mà bạn dùng để hồi tưởng về Cô-giáo-của-mình có hơi “ bốc” quá không (… “ Cô coi chúng tôi như rơm rác…”), chứ theo tôi, phong cách Cô Trang mới và lạ lẫm quá nơi cửa-Khổng-sân-Trình ( Viện Hán Học ) vốn lề-mề-nho-nhã mà thôi, trong thâm tâm  “ đa-phần” đều nể phục lắm ( Cô Trang đỗ đạc bên Tây về mà ).
Cám ơn Vận nhắc nhớ cho tôi về các Thầy, về các môn học- dù còn dở dang, cũng đã tròn 3 năm giồi mài nơi ấy. Môn Hán Văn những đến 12 giờ một tuần ( học đọc, học viết,
văn thơ Trung Hoa kim cỗ…). Môn Việt Văn cũng những  6 giờ ( rất chuyên sâu văn học Việt Nam qua các thời đại). Môn Triết , môn Lịch sử, môn Địa lý ( cả đông-tây-kim-cỗ)...
Mỗi mỗi Thầy trong hồi tưởng của tôi đều là các vị trí thức, học giả uyên thâm khả kính Dù là các thầy trẻ  như Thầy Nguyễn Văn Trọng, Thầy Nguyễn Văn Dương, Thầy Nguyễn Hữu Châu Phan…đúng là hình mẫu của bậc trí thức cao cấp đương thời. Các vị Thầy nầy luôn complet cravat , giày da bóng lộn…cùng chiếc cập-táp to dùng trĩu nặng một kho tàng tri thức bên trong, luôn sẵn sàng sẻ chia, truyền thụ cho bọn sinh viên chúng tôi. Nghe nói, các vị nầy đều là xuất thân từ các danh gia vọng tộc quyền quí của xứ kinh kỳ. Không nhờ ô-dù, mà chính tài năng học vị xuất sắc của các Thầy nên đã được điều về dạy các trường thuộc Viên Đại học Huế nầy đó.
Ấn tượng tiếp theo là Thầy Phan Văn Dật, dạy môn Việt Văn. Tôi ngưởng mộ Thầy từ dáng người thanh tú cao cao, từ những lời rao giảng truyền cảm và khối kiến thức văn chương chữ nghĩa của Thầy. Cái lịch lãm tế nhị, trao chuốt một cách thành thục tự nhiên của Thầy, ai có  một lần đối chứng ắt hẵn nhớ phục hoài thôi. Kho sách riêng của Thầy tại nhà còn nhiều và quý hơn thư viện quốc gia ở Huế thời đó ( thập niên 60). Nhiều công trình nghiên cứu, nhiều tác phẩm thi văn của thầy đã xuất bản, được nhiều người biết đến.
*Ảnh 04-Thầy Phan Văn Dật và các nữ môn sinh Viện Hán Học Huế…1963.
Gió tung tà áo ghì không kịp,
Bẻn lẽn nhìn quanh mặt đỏ gay!
Đã có ghi bên trên rồi, nhưng tôi cố tình nhẩm đọc lại, vì đó là 2 câu thơ của Thầy, tôi tâm đắc nhất. Cái uyên thâm của thầy qua kho sách vở, cái thanh tú của Thầy qua vóc dáng  và tích cách lịch lãm, cái lãng mạn của Thầy …qua 2 câu thơ nầy vậy .
Thầy tôi thì nhiều vị lắm, vị nào cũng khả kính, khó quên. Nhưng nếu phải ngồi viết một bài văn với tựa đề Thầy-tôi, chắc tôi chọn ngay Thầy Phan Văn Dật!( có thể cũng do
thiên kiến,…vì nối tiếp Thầy, tôi cũng là Thầy-Giáo-Văn ).
Còn các vị Thầy dạy Hán văn, chúng tôi thường gọi là “Cụ”…Mà là Cụ đúng nghĩa vậy    ( ngoài Thầy Võ Như Nguyện). Các cụ Nguyễn Duy Bột, cụ Hà Ngai, cụ La Hoài, cụ Châu Văn Liệu…khi chúng tôi nhập môn Viện Hán Học Huế (1962) các cụ đều trên lục tuần, và các cụ lên lớp luôn áo áo dài khăn đóng…Đúng như  hình ảnh  cụ Đồ Vũ-Đình-Liên, mà chúng ta ai cũng biết qua bài mỗi-năm-hoa-đào-nở…
Và nói đến chữ Hán, các trường, nhất là đại học văn khoa, dù ở Huế hay Sài Gòn (trong giới Hướng Đạo nữa ), thập niên 60 của thế kỷ trước, giới sinh viên và giáo sư ai cũng biết đến tên gọi thân thương: Cha Thích. Cha là Linh Mục, nên chi cũng áo dài đen giống như các Cụ-Thầy của tôi vậy . Cha dạy môn Hán văn. Chữ Tàu cha viết đúng nghĩa rồng- bay-phượng-múa, uyển chuyện, lã lướt mà đẹp vô cùng. Cách dạy học của Cha cũng thật độc đáo. Học trò đều là sinh viên, có anh khóa 1 sinh năm 1930 kìa.    Nhưng tất tất, đã là
học trò của Cha thì phải là em bé, cùng Cha hát hò, cùng Cha vổ tay theo nhịp các bài hát thật hồn nhiên vui tươi như các em bé ở nhà trẻ, mẫu giáo vậy. Những bài hát thân quen, giản dị nào “…cái nhà, là nhà của ta…”,  “ …Xuân du phương thảo địa…”,  “…vui ca lên nào anh em ơi…”…luôn rộn vang, hả hê trong những buổi học cùng Cha.       Với cha
*Ảnh 05- Cha Thích và các sinh viên miền Nam…1963
càng hồn nhiên, càng bình dị…là triết-lý-sống cao thâm nhất, kẻ phàm phu thường nhận thức sai lầm, khó thấu hiểu được.( gần giống như 9 điều …cho người già…của Chu Dung Cơ, cựu thủ tướng Trung Quốc).
Cho đến bây giờ, hàng năm kỷ niệm ngày mất của Cha được tổ chức khắp nơi, thường xuyên nhất là ở thành phố Hồ Chí Minh, do hầu hết các thế hệ học trò của Cha ở mọi vùng đất nước, ở nhiều đoàn thể, ở nhiều trường học ngày xưa, kéo nhau về tham dự, tưởng niệm vị Thầy thật tài hoa, độc đáo, ấn tượng nầy : Cha Thích.
…………………
Hôm nay, cận kề ngày NHÀ GIÁO VIỆT NAM, tôi – giờ cũng là vị cựu giáo già tuổi ngoại thất thập, ghi ra đây đôi dòng gọi là kính tưởng nhớ và lòng tri ân đến quý vị Thầy cô giáo ngày xưa của tôi, của hơn nửa thế kỷ trước…

  Lâm Khương Nhàn,
 Cựu sinh viên K4 Viện Hán Học Huế,
Cựu Giáo chức trường Trung học Vũng Tàu.
Cựu Giáo chức THBC Lý Thường Kiệt VT.

Thứ Bảy, 23 tháng 3, 2013

CÂU CHUYỆN VỀ SỰ LỰA CHỌN


     Hai người nông dân rời quê đi kiếm sống. Một người muốn đi Thượng Hải, còn người kia muốn đi Bắc Kinh. Trong phòng chờ, họ đã thay đổi ý định, bởi vì họ nghe người xung quanh bàn luận rằng: Người Thượng Hải khôn ngoan lắm, người nơi khác đến hỏi đường, họ cũng thu lệ phí. Còn người Bắc Kinh thì thật thà chất phác, thấy ai không có cái ăn, không những họ cho bánh mà còn cho cả quần áo cũ nữa. Thế là, họ gặp nhau và đổi vé cho nhau.
   Người đi Bắc Kinh nhận thấy rằng, Bắc Kinh thật là tuyệt vời. Tháng đầu tiên, anh ta không phải làm gì cả, nhưng vẫn không bị đói. 
   Người đi Thượng Hải phát hiện rằng. Thượng Hải quả là một thành phố có thể kiếm được nhiều tiền. Làm việc gì cũng có thể kiếm ra tiền. Chỉ đường cho người khác cũng có thể kiếm được tiền, bưng một chậu nước cho người khác rửa mặt cũng có thể kiếm được tiền. Chỉ cần chịu khó động não một chút, rồi chịu khó lao động là có thể kiếm được nhiều tiền.
Một thời gian sau, dựa vào kinh nghiệm và sự hiểu biết của mình đối với đất trồng, người đi Thượng Hải ra vùng ngoại ô lấy đất, trộn lẫn với lá cây và cát, bán cho người những người Thượng Hải yêu hoa mà chưa nhìn thấy đất trồng hoa bao giờ. Một năm sau, nhờ vào loại “đất trồng cây cảnh” ấy, ông đã có một cửa hàng nho nhỏ.
Sau nhiền năm đi lại trong các ngõ hẻm, ông nhận thấy: một số cửa hàng tuy được quét dọn sạch sẽ như chùi, nhưng biển hiệu lại rất dơ bẩn. Dò hỏi, ông mới được biết, đó là do những công ty vệ sinh chỉ chịu trách nhiệm lau chùi sàn nhà, mà không chịu trách nhiệm lau chùi bảng hiệu. Thế là, ông thành lập một công ty chuyên lau chùi bảng hiệu. Đến nay, công ty của ông có hơn 150 người, công việc làm ăn cũng được mở rộng từ Thượng Hải đến Hàng Châu và Nam Kinh. 
   Sau đó, ông đi tàu lên Bắc Kinh khảo sát tiềm năng của dịch vụ vệ sinh ở đây. Khi đến ga Bắc Kinh, ông thấy một người nhặt rác thò đầu vào toa giường mềm, xin vỏ lon bia. Khi ông đưa vỏ lon bia cho người đó, họ mới giật mình nhận ra nhau, hoá ra, 5 năm trước đây, họ từng đổi vé cho nhau.
Thành bại của con người nằm ở chỗ họ nhìn nhận thế giới và xác định chỗ đứng của mình như thế nào. Nếu bạn có những suy nghĩ tích cực, thế giới theo cách nhìn của bạn sẽ là điểm tựa tốt nhất để bạn hoàn thiện bản thân. Nếu bạn có những suy nghĩ tiêu cực và thái độ ỷ lại, thế giới theo cách nhìn của bạn chỉ có thể là vốn liếng để bạn tiêu xài phung phí. Những người luôn nhìn thấy và nắm bắt cơ hội ở bất cứ nơi nào thì rất ít khi thất bại.(Internet)
Ảnh minh họa : Hòn Ngưu ( Dinh Ông Thượng ) Vũng Tàu

Thứ Năm, 4 tháng 10, 2012

NHỮNG NĂM CÒN LẠI TRONG CUỘC ĐỜI

Đời người thật ngắn ngủi. Nhớ lại vào lứa tuổi đôi mươi, chúng ta lang thang trong khuôn viên trường đại học, vui cười vô tư và bây giờ đã hơn 40 năm trôi qua rồi. Đời người thoáng chốc đã già !Bây giờ, những năm còn lại trong cuộc đời của một người, chúng ta cần sống thanh thản, sống thoải mái, sống hạnh phúc. Vì qua một ngày, chúng ta đã mất một ngày. Vì vậy, một ngày đến, chúng ta vui một ngày. Vui một ngày…rồi không biết được bao nhiêu ngày nửa. Hạnh phúc là do chính mình tạo ra, vui sướng cũng do chính mình tìm lấy vì những niềm vui ấy đã ẩn chứa trong những sự việc nhỏ nhặt xãy ra trong đời sống.
Hạnh phúc lúc bình minh
 Hạnh phúc là những gì hiện đang ở chung quanh chúng ta, trong tầm tay chúng ta. Nhà nho Nguyễn Công Trứ quan niệm “ Tri túc, đãi túc, tiện túc, hà thời túc. Tri nhàn, đãi nhàn, tiện nhàn, hà thời nhàn”…
Tiền rất quan trọng trong đời sống của con người, nhưng tiền không phải là tất cả. Đừng quá coi trọng đồng tiền, và cũng đừnglệ thuộc vào đồng tiền, mặc dù biết rằng nếu không có tiền thi làm sao chúng ta sống, làm sao để được thoải mái.
Ta vẫn biết khi ta ra đời ta đâu có mang nó đến, và khi ra đi chúng ta cũng không mang nó theo.
Đồng tiền có thể mua một lâu đài to lớn, nhưng đồng tiền không mua được mái ấm gia đình.
Đồng tiền giúp chúng ta mua được nhiều thứ tiện nghi trong cuộc sống, nhưng đồng tiền không mua được sức khỏe cũng như hạnh phúc trong đời sống.
Công viên Tầm Dương ( Bãi Trước )
Quảng đời còn lại thì quá ngắn ngủi, ta phải sống những ngày tháng cho đáng sống, ta phải làm cho cuộc đời thêm phong phú .
Những gì cần ăn thì cứ ăn, cần mặc thì cứ mua sắm, muốn đi du lịch thì cứ đi. Tập cho mình có nhiều đam mê, tự tìm niềm vui cho chính mình.
Vào trong internet để gửi thư cho bạn bè, để chia sẻ một tin hay, một chuyện vui, một bản nhạc, đọc những bài viết có giá trị, hay “chat” với người quen biết. Chúng ta cần trao dồi bộ óc để trí nhớ vẫn còn sáng suốt. Nếu có người bạn cần giúp, ta cứ mở lòng nhân ái, tốt bụng với mọi người. Rảnh rổi đi làm những việc từ thiện ngoài xã hội, giúp một tay tại những nơi tôn kính như nhà Chùa, nhà Thờ,… lấy việc giúp người làm niềm vui, đó là những thú vui trong tuổi già.
Hơn nửa đời, chúng ta dành khá nhiều cho sự nghiệp, cho gia đình, cho con cái, bây giờ thời gian còn lại chẳng bao nhiêu nên dành cho chính mình, quan tâm bản thân, sống thế nào cho thanh thản, vui vẽ. Việc gì muốn thì làm, ai nói sao thì mặc kệvì mình đâu phải sống để người khác thích hay không thích, nên sống thật với mình. Sống phải năng hoạt động nhưng đừng quá mức, ăn uống quá kiêng cử thì không đủ chất bổ dưởng, quá nhàn rổi thì buồn tẻ, quá ồn ào thì khó chịu…Cuộc sống tuổi già thật đa dạng, nhiều màu sắc nên ta cần có nhiều bạn bè, nhiều nhóm bạn bè hoặc tham dự vào những sinh hoạt trong các Hội đoàn ái hữu lành mạnh. Gặp bạn, nói ra những điều phiền muộn cho nhau nghe. Hãy tìm cách gặp gở bạn bè và người thân vì không còn nhiều thời gian nửa.
Cha và con
Một người lớn tuổi, sống cô đơn, biệt lập, không đi ra ngoài, không giao thiệp với bạn hữu, thế nào cũng đi đến chổ tự than thân trách phận, bất an, lo âu, ủ dột và tuyệt vọng. Từ đó bắt nguồn của bao nhiêu căn bệnh. Đừng bao giờ nói, hay nghỉ là: “ Tôi già rồi, tôi không giúp ích được cho ai nửa”. Đừng nói những lời hay những tư tưởng có ý tuyệt vọng.
Người già chỉ sảng khoái khi được có bạn tâm giao, đó là một liều thuốc bổ mà không Bác sĩ nào có thể biên toa cho ta mua được.
Ở tuổi hiện tại, chúng ta đừng nghỉ đến đồng tiền, đừng nghỉ đến giàu hay nghèo nửavà cũng đừng than trách hay hối hận vì những lầm lỗi trong quá khứ và cũng đừng tự hỏi là tại sao bây giờ ta không có nhiều tiền. Đừng nói ta không có tiền.
Có những thứ hiện đang chung quanh tarất quí giá mà có nhiều tiền cũng không mua được, đó là người phối ngẩu của chúng ta.
Nếu có chút ít đồng tiền thì cứ tiêu xài những gì ta cần vì sẽ có lúc chúng ta để lại cho người khác xài. Nếu hôm nay ta còn khoẻ mạnh, còn ăn được những món ăn ta thích và ăn biết ngon là ta đã có một khối tài sản to lớn trong tuổi già. Rồi ta tìm đến những người bạn cùng nhau uống tách trà nóng, ly cà phê buổi sáng, kể chuyện năm xưa hay trao đổi những kinh nghiệm trong cuộc sống hiện tại.
Cuối tuần, hẹn nhau với người bạnđi câu cá, hưởng không khí trong lành của thiên nhiên và cũng để cho tâm tư lắng đọng, tinh thần thanh thản. Đó là những niềm vui trong cuộc sống cuả tuổi già.
Tứ khoái của tuổi già là: Ăn, ngủ, thể dục và du lịch.
Ăn được ngủ được là Tiên. Ăn và ngủ đi đôi với nhau. Người lớn tuổi có nhiều thì giờ nghỉ ngơi, cần có chế độ ăn uống bổ dưởng, cung cấp đủ calories cho cơ thể. Sự luyện tập thể dục là thỏi nam châm của cuộc sống và là kim chỉ nam của tuổi thọ.Đi du lịch để cho cuộc đời thoải mái, trí óc thanh thản và vui sống.Khi về già, chúng ta thường hay sống về quá khứ, hay nhớ lại chuyện xưa. Sự nghiệp, vinh quang xưa kia đã trở thành mây khói, xa vời.
Hẹn nhau trong những buổi họp mặt để ta có nhiều người bạn tâm tình, kể lại những kỷ niệm đẹp trong quá khứ…vui cười thích thú.Vợ chồng sống hạnh phúc bên nhau, luôn luôn yêu thương người bạn đời, gắn bó với nửa kia của mình, là điều mà chúng ta mong ước. Đưa các cháu đi học, đi ăn, chơi đùa với các cháu… là thú vui của tuổi già. Ta phải làm thế nào tuổi già mà tâm không già, thế là già mà không già. Nụ cười là liều thuốc bổ quí nhất.
Chúng ta cần tránh đi những sự cải vã, tranh dành hơn thua từng lời nói hoặc những tranh chấp vô ích với bất cứ ai.
Chính những lúc cải vã, giận dữ đó đã đánh mất đi những niềm vui trong cuộc sống, không thích hợp trong tuổi chúng ta, nhất là những người đang đau yếu. Chúng ta phải đối diện với bệnh tật một cách lạc quan, tự tin, đừng quá lo âu. Khi đã làm hết khả năng theo tầm tay, sẽ có thể ra đi mà không hối tiếc. Hãy để Bác Sĩ chăm sóc, luôn luôn giử bình an trong tâm hồn.Chúng ta có thể nói là mìnhcó hạnh phúc thật sự khi có sức khỏe tốt, chịu đi tập thể dục, có cơ hộidu lịch thường xuyên, ngủ ngon, ăn uống ít kiêng cử khi vào tuổi hoàng hôn.
Thiên đàng không phải đi tìm đâu cho xa mà thiên đàng do ta dựng lên và chui vào đó mà hưởng hạnh phúc. Sự sung sướng và hạnh phúc trong cuộc đời tùy thuộc vào sự thưởng thức nó ra sao. Người hiểu đời rất quí trọng và biết thưởng thức những gì mình đã có, và không ngừng phát hiện thêm ý nghiã của nó làm cho cuộc sống vui hơn, giầu ý nghiã hơn.
Hoàn toàn khoẻ mạnh, đó là thân thể khoẻ mạnh, tâm lý khoẻ mạnh và đạo đức khoẻ mạnh…Tâm lý khoẻ mạnh là biết chịu đựng, biết tự chủ, biết giao tiếp; Đạo đức khoẻ mạnh là có tình yêu thương, sẳn lòng giúp người, có lòng khoan dung.
SINH, LÃO, BỆNH, TỬ là qui luật ở đời, không ai chống lại được. Khi thần chết gọi thì thanh thản mà đi. Cốt sao sống ngay thẳngkhông hổ thẹn với lương tâm và cuối cùng cuộc đời của một người cũng chỉ là con số không to lớn. 
                                    
( Khuyết danh )
Nhận từ PB mail

Thứ Bảy, 25 tháng 8, 2012

CHUYỆN TÌNH THẬT ĐẸP

LÝ QUANG DIỆU là một chính khách nổi tiếng của thế giới,một vị Thủ Tướng tài ba của đảo quốc Singapore,người có công đưa đất nước từ đói nghèo lạc hậu lên đến một cường quốc giàu có vào bậc nhất thế giới và ông cũng là một người đàn ông,một người chồng tuyệt vời nhất trên cõi đời này.
CHUYỆN TÌNH LÝ QUANG DIỆU:
Nhiều người trên thế giới biết đến ông Lý Quang Diệu như một chính khách, một bộ óc kinh tế lỗi lạc. Nữ văn sĩ, nhà phê bình tiếng tăm của Singapore Catherine Lim từng miêu tả ông Lý như một người độc đoán, khô cằn. Ít ai biết rằng, hằng đêm ông Lý đến ngồi bên người vợ nằm liệt từ hơn 2 năm qua, kể chuyện và đọc thơ cho bà nghe.
Chơi lễ Tình nhân 14.2.2008 tại Sentosa

Chỉ có cái chết mới chia lìa lứa đôi
12.5.2008 là một ngày tôi nhớ mãi. Ngày đó, cha con cựu Thủ tướng Lý Quang Diệu và đương kim Thủ tướng Lý Hiển Long sẽ ra tòa án đối chất với chủ tịch Đảng Dân chủ Singapore đối lập, tiến sĩ Chee Soon Juan, trong vụ kiện xúc phạm danh dự mà cha con ông Lý là nguyên đơn. Đây là một sự kiện cột mốc trong lịch sử Singapore. Cánh phóng viên nước ngoài như tôi thì háo hức lắm, có mặt tại phiên tòa từ sáng sớm. Nhưng đến 6 giờ chiều cha con ông Lý vẫn không đến.
Về sau mới có tin, hôm đó vợ ông Lý, bà Kha Ngọc Chi, bị một loạt cơn đột quỵ gây xuất huyết não. Kể từ đó, bà nằm liệt giường, không nói được, dù vẫn còn tri giác. Tôi đồ rằng sự biến đó đã khiến cha con ông Lý không đến tòa theo kế hoạch.
Ông bà Lý Quang Diệu mừng sinh nhật thứ 80 của ông vào ngày 16.9.2003. Không lâu sau đó, bà bị đột quỵ khi đang cùng ông công du Anh quốc, nhưng bình phục được và yếu đi.


Tuổi già nước mắt như sương
Con gái ông Lý, bác sĩ Lý Vỹ Linh trong bài xã luận có tựa đề “My dear Mama” (Người mẹ yêu quý của tôi) đăng trên báo Straits Times hôm 29.8 vừa qua có đoạn viết: “Nhưng tôi không thể làm được gì để giúp mẹ tôi trở lại như trước khi bà bị cơn đột quỵ khủng khiếp quật ngã vào ngày 12.5.2008. Từ đó đến nay, bà vật vã liệt giường. Ba tôi cũng vật vã không kém”. Bà Linh cũng thừa nhận rằng trong đại gia đình họ Lý, cha bà là người đau khổ nhất trước tình cảnh của bà Chi: “Người đau khổ nhất và lặng lẽ chịu đựng mỗi ngày chính là ba tôi”.
Hồi năm 2009, bà Linh cũng viết một bài khác kể rằng, khi mẹ bà lâm cảnh “chân mỏi tay run”, mỗi bữa cơm ông Lý ngồi bên cạnh, nhặt từng hạt cơm bà đánh rơi, bỏ vào chén mình, ăn ngon lành.
Trong cuộc phỏng vấn hồi đầu tháng 9 năm nay với nhà báo Seth Mydans của tờ New York Times, ông Lý lần đầu tiên kể về tình trạng hiện tại của người vợ nay gần bước sang tuổi 90: “Bà ấy nằm tại nhà và được các y tá chăm sóc. Trước đây, chúng tôi ở chung phòng, nay thì tôi chuyển sang phòng kế bên. Tôi đã quen với âm thanh khò khè và tiếng rên mỗi khi cổ họng bà ấy bị khô và người ta phải bơm chất Biothene vào để hút đàm ra. Bà ấy không thể ngồi dậy, nên thở rất khó khăn. Thỉnh thoảng các y tá đỡ bà ngồi lên, đập đập vào lưng cho bà dễ chịu”. “Thật là đau đớn”, ông Lý buồn bã.
Chọn cho bà một sự ra đi nhẹ nhàng hay cứ tồn tại trong đớn đau là điều dằn vặt ông: “Tôi có thể đuổi hết các y tá đi. Khi đó những người giúp việc không biết cách làm cho bà ấy thở được, khiến bà sưng phổi, và kết thúc mọi đau đớn”. Nhưng, “một bác sỹ nói với tôi: Có thế ông nghĩ rằng ông sẽ thấy nhẹ nhàng hơn khi bà ấy ra đi, nhưng rồi ông sẽ buồn và cảm thấy trống vắng. Vì ít ra, bà vẫn là một con người ở đây, một người mà hằng ngày ông có thể trò chuyện cùng và hiểu được những gì ông nói”.

Ông Lý đồng tình với lời khuyên đó: “Đã 2 năm, rồi tháng 5, tháng 6, tháng 7, tháng 8, tháng 9, tổng cộng là 2 năm 4 tháng. Điều đó đã trở thành một phần trong cuộc sống của tôi”. Và ông nói rằng ông chỉ có thể làm những gì tốt nhất cho bà cảm thấy dễ chịu mà thôi, như là tìm những y tá giỏi, biết cách đỡ bà ngồi và xoa bóp cho bà; trang bị giường bệnh viện có túi hơi, để lưng bà không bị lở.
Vẫn đẹp như ngày đầu
Nhưng ông Lý không để nỗi đau vì người phụ nữ mà ông yêu thương nhất quật ngã mình: “Tôi phải làm gì? Tôi không thể ngã quỵ. Cuộc sống phải tiếp diễn. Tôi cố làm cho mình bận rộn suốt ngày”. Dù ở tuổi 87, ông Lý vẫn giữ chức Bộ trưởng Cố vấn trong nội các với lịch làm việc dày đặc các chuyến công du, đón tiếp chính khách, học giả nước ngoài, nói chuyện trước công chúng Singapore và doanh nhân, chính khách trên thế giới.
Bình phục sau cơn đột quỵ năm 2003, bà tiếp tục sánh bước cùng ông
Và hằng đêm, ông đến bên giường nói chuyện với bà: “Tôi kể cho bà ấy nghe công việc tôi làm trong ngày và đọc những bài thơ mà bà ấy yêu thích. Bà ấy hiểu và cố thức để nghe tôi”. Kiêu hãnh và Định kiến, Lý trí và Tình cảm của Jane Austen, truyện thơ The Canterbury Tales của Geoffrey Chaucer, Kim của Rudyard Kipling, thơ Shakespeare… là những tác phẩm và tác giả mà ông Lý chọn trong tủ sách của vợ và đọc cho bà nghe. Thời trẻ, bà Chi học chuyên văn và đặc biệt yêu thích văn chương Anh.

“Thi thoảng trong những khoảnh khắc lặng yên, ký ức những ngày đẹp đẽ mà chúng tôi bên nhau lại trở về”, ông Lý tâm sự với Seth Mydans. “Có phải mỗi khi ông đến thăm bà thì ký ức ngày xưa quay trở lại?”, Seth hỏi. “Ồ không, không phải lúc đó đâu. Con gái tôi vừa tìm được hàng chục bức ảnh cũ và ảnh kỹ thuật số lưu trữ tại tập đoàn báo chí Singapore Press Holdings. Khi tôi nhìn lại chúng, tôi nghĩ tôi may mắn làm sao. Tôi đã có 61 năm hạnh phúc bên bà ấy. Chúng tôi rồi sẽ phải ra đi. Tôi không chắc ai sẽ ra đi trước, bà ấy hay là tôi. Vì vậy tôi nói với bà ấy, rằng tôi đang nhẩm lại lời nguyền lứa đôi của tín đồ Cơ đốc giáo. Tôi nhớ nó thế này: Hãy yêu, gìn giữ và vun đắp, trong đau ốm hay khỏe vui, lúc thuận lợi, khi khó khăn, chỉ có cái chết mới chia lìa chúng ta”.

Thuở ban đầu
Lý Quang Diệu chỉ có một cuộc tình duy nhất, cuộc tình với Kha Ngọc Chi, nữ sinh con nhà giàu học giỏi nhất trường Đại học Raffles cách đây 2/3 thế kỷ.
Tiểu thư con nhà giàu học giỏi

Tiểu thơ con gái nhà ai?
Năm 1940, khi Thế chiến thứ 2 đã tràn lan khắp châu Âu, ước mơ sang Anh quốc du học của các học sinh thuộc địa như Lý Quang Diệu tạm gián đoạn. Quang Diệu nhận học bổng Anderson danh giá nhất trong nước và học luật tại Đại học Raffles. Cuối học kì đầu tiên của năm nhất, Quang Diệu xếp đầu trường về môn toán. “Nhưng tôi bàng hoàng nhận ra rằng tôi không chiếm vị trí số 1 cả môn tiếng Anh lẫn môn kinh tế. Tôi xếp sau một cô tên Kha Ngọc Chi. Tôi thất vọng và cảm thấy khó chịu”, Quang Diệu kể trong Hồi ký Câu chuyện Singapore: 1923 – 1965 xuất bản năm 1998. Quang Diệu thất vọng vì sợ không lấy được học bổng Nữ hoàng để du học ở Anh.
“Tôi đã gặp cô Kha này hồi năm 1939. Khi ấy cô ta là nữ sinh duy nhất ở trường Trung học Raffles toàn là con trai. Cô ta được hiệu trưởng mời phát phần thưởng cuối năm cho các học sinh giỏi. Lần đó, tôi nhận được từ tay cô ta 3 quyển sách”, Quang Diệu viết trong Hồi ký.
Rồi cuộc chiếm đóng của người Nhật ở Singapore ập đến vào đầu năm 1942. Trường lớp đóng cửa. Ngọc Chi về nhà phụ giúp gia đình. Quang Diệu, con trai cả trong một gia đình có 4 trai 1 gái, đi làm công, rồi lao ra chợ đen kinh doanh để giúp đỡ gia đình. Rượu ngoại, thuốc lá, nữ trang… thứ gì có lời là anh buôn tất. Ở chợ đen, anh gặp Yong Nyuk Lin, một cựu sinh viên ở Đại học Raffles khi đó đang làm việc tại một công ty bảo hiểm quốc tế.
Ngày nọ có một công ty kinh doanh văn phòng phẩm hỏi Quang Diệu tìm nguồn cung cấp hồ dán. Quang Diệu trao đổi với Nyuk Lin, rồi cả hai mở xưởng sản xuất hồ, một cái đặt ở nhà Quang Diệu, một cái đặt ở nhà Nyuk Lin do vợ và em vợ anh ta trông coi. Em vợ Nyuk Lin chính là cô Kha Ngọc Chi một thời lừng lẫy ở Đại học Raffles!
Chính thương vụ hồ dán mà Quang Diệu gặp lại Ngọc Chi vào lần đầu tiên anh đến nhà Nyuk Lin ở khu Tiong Bahru trên chiếc xe đạp cà tàng. Lúc đó, Ngọc Chi đang ngồi nơi mái hiên bên hè nhà. “Khi tôi hỏi Nyuk Lin đâu, cô ta mỉm cười và chỉ chiếc cầu thang ngay góc nhà. Giờ đây, tôi gặp cô ta trong một bối cảnh khác. Cô ta đang ở nhà, ăn mặc thoải mái, tự tay làm việc nhà vì không còn người giúp việc nữa”, Quang Diệu kể. Tình cảm đầu đời giữa họ đã nảy sinh từ đó.
“Tháng 9.1944, chúng tôi đã trở nên đủ gần gũi để tôi mời Nyuk Lin, vợ anh ta và Ngọc Chi (từ nay tôi gọi là Chi thôi) đi dự sinh nhật thứ 21 của tôi tại một nhà hàng Tàu ở khu Great World. Đó là lần đầu tiên tôi mời nàng ra ngoài”, Quang Diệu kể. Vào thời đó ở Singapore, một cô gái chấp nhận ra ngoài cùng một chàng trai, dẫu là có anh chị của cô đi cùng, thì điều đó không thể không mang một thông điệp nhất định!

Môn đăng hộ đối
Cuối năm 1945, cuộc chiếm đóng của người Nhật đã chấm dứt, Ngọc Chi đi làm thủ thư ở Thư viện Raffles. Ngày ngày, Quang Diệu cuốc bộ đưa cô về nhà. Có lần, anh chở Chi về bằng xe gắn máy của mình, khiến mẹ cô nổi giận. Gia đình cô vốn giàu có, cha làm ngân hàng, ở nhà biệt thự và có xe hơi đưa rước đến trường hằng ngày. Vì thế, ngồi sau xe gắn máy của một người đàn ông là điều không thể chấp nhận đối với một tiểu thư như cô. “Thiên hạ sẽ nghĩ sao? Ai mà dám lấy con chứ!”, mẹ cô đay nghiến.
Đêm Giao thừa năm 1946, Quang Diệu thổ lộ với Ngọc Chi rằng anh không có ý định quay lại Đại học Raffles để hoàn thành chương trình cử nhân luật của mình mà sẽ đi Anh du học, và hỏi cô có thể chờ đợi anh quay lại sau 3 năm. “Chi hỏi tôi có biết Chi lớn hơn tôi hai tuổi rưỡi. Tôi nói rằng tôi biết và đã cân nhắc kỹ điều này. Rằng tôi đã đủ chín chắn. Hơn nữa tôi muốn làm bạn với một người bằng vai phải lứa và khó lòng tìm được một người khác có cùng hoài bão với tôi như Chi. Chi nói sẽ chờ đợi tôi”, Quang Diệu viết trong Hồi ký. Nhưng họ quyết định không nói với cha mẹ hai bên, bởi “quá khó để các bậc cha mẹ đồng ý một sự hứa hẹn dài đăng đẳng như vậy”.
Khi biết con có ý định du học, mẹ Quang Diệu muốn anh hứa hôn với một cô gái gốc Hoa, để chắc rằng sau khi học xong và về nước, anh không dẫn theo một cô mắt xanh tóc vàng. Đã có nhiều sinh viên đi du học, lấy vợ Anh, khi về nước thì ly hôn hoặc phải chuyển về Anh sống vì cô vợ không thích nghi được với văn hóa xứ thuộc địa. Vì thế, mẹ anh đã lần lượt dẫn về ra mắt anh 3 cô gái gốc Hoa, dung nhan tươi thắm, gia đình tử tế, khá giả. “Nhưng tôi chẳng có chút rung động nào. Tôi thấy hạnh phúc với Chi”, Quang Diệu kể.
Và để mẹ đỡ lo, Quang Diệu quyết định thổ lộ với mẹ về Ngọc Chi. Gia đình Chi và gia đình Quang Diệu có nhiều nét tương đồng: cha họ đều là người Hoa sinh ra trên đảo Java của Indonesia; mẹ họ cũng là những người gốc Hoa sinh ra quanh eo biển Singapore. Từng gặp Ngọc Chi trong thương vụ hồ dán và từng nghe chuyện cô nữ sinh đứng đầu Đại học Raffles, mẹ Quang Diệu ưng bụng lắm. “Cử chỉ của bà đối với Chi chuyển sang hướng thân thiện trong tâm thế một mẹ chồng tương lai”, Quang Diệu ghi nhận.

Đám cưới bí mật ở Anh quốc
Giáng sinh năm 1947, Lý Quang Diệu và Kha Ngọc Chi bí mật kết hôn tại thị trấn Stratford-on-Avon, quê hương đại văn hào William Shakespeare, khi cả hai đang là du học sinh.
Hạnh phúc có nhau ở đất khách

Mấy núi cũng trèo
Hồi ký Câu chuyện Singapore: 1923-1965 kể rằng: Đúng vào sinh nhật thứ 23 của mình, ngày 16.9.1946, Quang Diệu bước lên con tàu Britannic, rời Singapore sang Anh du học. Ngọc Chi đứng trên bến cảng, nước mắt chảy dài, vẫy tay tạm biệt người yêu. Chàng trai Quang Diệu cũng không cầm được nước mắt. Họ chẳng biết bao giờ mới được gặp lại nhau. Vài tháng trước đó, họ đã quấn quýt bên nhau thật nhiều. Họ đã có những bức ảnh chung do một người em họ chụp giùm, để làm kỷ niệm khi xa nhau.
Quang Diệu đi du học bằng chính tiền dành dụm và nữ trang của mẹ, cùng với tiền tự kiếm được nhờ kinh doanh ngoài chợ đen. Nếu không có cuộc chiếm đóng kéo dài gần 4 năm của người Nhật trên đảo sư tử, cả Quang Diệu và Ngọc Chi đã có thể liên tục chương trình cử nhân luật của họ ở Đại học Raffles, và giành những suất học bổng danh giá của Nữ Hoàng để sang Anh học. Giờ đây, Quang Diệu đi du học tự túc vì không muốn mất thêm thời gian chờ đợi ở Đại học Raffles nữa, thì Ngọc Chi cũng quyết tâm trở lại trường học tiếp và sẽ giành lấy học bổng để sang Anh cùng người yêu.
Cuối tháng 7.1947, một cú điện báo từ Singapore cho biết Ngọc Chi đã dành được học bổng của Nữ hoàng. Quang Diệu vui mừng khôn xiết trước viễn cảnh cùng người yêu ở Cambridge. Nhưng lúc ấy đã quá muộn để Ngọc Chi có thể tìm được trường vì đầu tháng 10 năm học mới đã bắt đầu. Thay vì chấp nhận chờ một năm nữa, Quang Diệu vắt giò lên cổ chạy khắp Đại học Cambridge nhờ vả. Vì tài thuyết phục và lòng nhiệt thành của Quang Diệu, cộng với thành tích học tập sáng chói của Ngọc Chi từ thập niên 1930 mà Hội đồng khảo thí Anh quốc còn lưu giữ, hiệu trưởng trường Girton đã chấp nhận dành cho Ngọc Chi chiếc ghế dự phòng cho những trường hợp đặc biệt ở khoa luật.Trong vòng một tháng, Ngọc Chi đã thu xếp xong và theo tàu chở binh lính Anh rời Singapore vào cuối tháng 8. Đầu tháng 10, Ngọc Chi đến Liverpool, Quang Diệu đã chờ sẵn ở bến cảng tự bao giờ. Họ lên xe lửa về London, chơi ở đó 5 ngày, rồi xuôi về Cambridge.
Vượt qua lễ giáo
Có Ngọc Chi, hạnh phúc cũng đi kèm với rắc rối. Chi học trường Girton phía bắc thành phố Cambridge. Quang Diệu học trường Fitzwilliam và được phân cho một căn phòng ở phía nam thành phố. Nỗ lực tìm một căn phòng gần chỗ người yêu không thành, Quang Diệu phản ánh lên giám thị nhà trường, vốn là người đã hết lòng giúp trong việc xin được một chỗ học cho Ngọc Chi. Dù vậy, không những bị nghi ngờ về tinh thần “xả thân” cho người yêu, Quang Diệu còn “được” vị giám thị nhắc nhở rằng trường Girton sẽ không ủng hộ chuyện sinh viên nhận học bổng kết hôn ngay khi đang học.
Thế nhưng Quang Diệu và Ngọc Chi vẫn quyết tâm kết hôn vào tháng 12 năm ấy. “Chúng tôi quyết định lặng lẽ kết hôn vào dịp nghỉ lễ Giáng sinh, và giữ điều đó bí mật. Ba mẹ Ngọc Chi sẽ vô cùng thất vọng nếu chúng tôi xin phép họ. Trường Girton có thể sẽ phản đối như lời khuyến cáo của ngài giám thị. Hội đồng quản trị học bổng Nữ Hoàng có thể sẽ gây khó khăn”, Quang Diệu viết trong Hồi ký.
Một người bạn đã chỉ cho họ một khách sạn nhỏ ở Stratford-on-Avon để họ nghỉ lễ và tham quan nhà hát Shakespeare. Tại đó, họ đã bí mật kết hôn sau khi thông báo cho nhân viên hộ tịch địa phương. “Trên đường từ Cambridge đến Stratford-on-Avon, chúng tôi ghé London, tôi mua cho Chi một chiếc nhẫn bạch kim ở phố Regent. Sau 2 tuần ở Stratford-on-Avon, chúng tôi trở về Cambrigde, Chi tháo nhẫn ở ngón tay và treo vào sợi dây chuyền đeo ở cổ”, Quang Diệu kể.
Mặc dù đã cưới nhau, hai người vẫn “ai ở nhà nấy”, vẫn học hành chăm chỉ và “có hệ thống”. “Vào cuối tuần và một vài buổi tối khác, tôi đạp xe lên trường Girton. Ngọc Chi nấu cho tôi những món ăn Singapore bằng cái bếp gas ở đầu hè”, Quang Diệu viết. Và họ mời những người bạn Singapore đoạt học bổng Nữ hoàng đến ăn chung. Phần thịt tiêu chuẩn cả tuần của Quang Diệu sẽ được nấu thành cà ri, hoặc Ngọc Chi sẽ làm món phở xào truyền thống với những nguyên liệu “không giống ai”: mì spaghetti sợi mảnh thay cho sợi phở, thịt gà thay vì thịt heo, ớt ngọt thay cho ớt hiểm…
Tốt nghiệp hạng ưu. Thầy giám thị Thatcher đứng giữa

Họ tiếp tục như thế cho đến kì thi cuối cùng vào tháng 5.1949. Khi kết quả được thông báo vào tháng 6, Quang Diệu xếp hạng nhất, đoạt được ngôi sao danh dự duy nhất cho những sinh viên tốt nghiệp xuất sắc của khóa học. Ngọc Chi cũng đạt hạng nhất. Họ gọi điện về Singapore báo cáo thành tích học tập cho gia đình, nhưng chuyện kết hôn thì vẫn giấu biệt.
Trong một cuộc đối thoại với các doanh nhân năm 2009, ông Lý kể rằng đó là cuộc điện thoại duy nhất mà ông gọi về Singapore trong suốt mấy năm ở Anh, tốn 5 bảng Anh, giá trị bằng 100 bảng bây giờ.

Đẹp duyên cưỡi rồng
Khi ông Lý Quang Diệu chọn con đường chính trị và trở thành người đứng đầu đất nước, bà Kha Ngọc Chi trở thành một nội tướng thâm hậu.
Đám cưới chính thức tại khách sạn Raffles ngày 30.9.1950

Tháng 8.1950, sau khi hoàn thành khóa huấn luyện hành nghề luật sư tại trường Middle Temple, Quang Diệu và Ngọc Chi trở về nước trước sự cổ vũ của báo chí. Tìm việc làm xong, Quang Diệu đến nhà Ngọc Chi xin phép làm đám cưới. Cha Ngọc Chi đùng đùng nổi giận. Ông chờ đợi thân phụ của Quang Diệu đến ngỏ lời xin phép chứ không phải là một cậu thanh niên 27 tuổi. Nhưng cuối cùng, đám cưới chính thức của họ cũng diễn ra tốt đẹp tại khách sạn Raffles vào ngày 30.9.1950. Ngọc Chi về làm dâu nhà họ Lý ở số 38 phố Oxley. Hai vợ chồng cùng đi làm cho công ty luật Laycock & Ong.
“Con rồng vinh hiển” đem lại niềm hạnh phúc vô biên
Ngày 10.2.1952, đứa con đầu lòng của họ ra đời. Lý Quang Diệu tham vấn một chuyên gia phiên dịch tại Tòa án tối cao Singapore để tìm cái tên hay nhất cho con. Vị chuyên gia phán rằng đứa bé ra đời vào ngày mầu nhiệm nhất trong năm theo lịch Trung Hoa - ngày thứ 15 của nguyệt kỳ đầu tiên trong năm con rồng. “Vì thế chúng tôi quyết định đặt tên con là Hiển Long, tức con rồng vinh hiển. Thằng bé rất dài, trông gầy guộc nhưng nặng hơn 8 cân Anh. Nó đem lại cho chúng tôi niềm hạnh phúc vô biên”, ông Lý viết trong Hồi ký.
Sau đó, họ sinh thêm con gái Vỹ Linh (1955) và con trai út Hiển Dương (1957). Cả 3 đều học rất giỏi và thành đạt. Hiển Long nay là đương kim thủ tướng Singapore, Vỹ Linh là bác sỹ thần kinh nhi nổi tiếng, còn Hiển Dương là một doanh nhân giỏi.
Hiển Long, Vỹ Linh, Hiển Dương đều thông minh và học giỏi
Tháng 9.1955, Lý Quang Diệu cùng vợ và em trai kế Lý Kim Diệu thành lập công ty luật Lee & Lee do ông đứng đầu. Trước đó, cuối năm 1954, ông cùng các cựu du học sinh tại Anh quốc thành lập Đảng Hành động Nhân dân (PAP), ra tranh cử nghị viên và chính thức bước vào con đường chính trị mà ông đã có tham vọng khi còn rất trẻ. Tháng 6.1959, ông thắng cử và trở thành thủ tướng Singapore, trao quyền điều hành công ty luật Lee & Lee lại cho vợ và em trai. Hơn 6 thập niên qua, Lee & Lee không ngừng lớn mạnh và là một công ty tầm cỡ ở Singapore hiện nay.

Nội tướng
Trong chương áp cuối với chủ đề “Gia đình tôi” của tập hồi ký thứ hai Từ Thế giới thứ ba lên Thế giới thứ nhất – Câu chuyện Singapore: 1965-2000 xuất bản năm 2000, ông Lý viết: “Những người (Không dùng từ này) khiến tôi có ấn tượng bởi sự quan trọng mà họ đặt vào người phụ nữ sẽ gắn bó với một cán bộ triển vọng. Họ biết người vợ có ảnh hưởng lớn như thế nào đến sự dấn thân vì lý tưởng của người chồng… Tôi thật sự may mắn. Chi chưa bao giờ nghi ngờ hay do dự về lý tưởng chiến đấu của tôi, bất chấp kết cục thế nào”.
Sát cánh bên chồng
Với ông Lý, bà Chi là chỗ dựa của gia đình: “Bởi tôi biết Chi có công việc của một luật sư, và nếu cần bà ấy có thể tự lo cho mình và các con, nên tôi không phải lo lắng về tương lai của bọn trẻ”. Điều đó giúp ông toàn tâm toàn ý cho sự nghiệp chính trị của bản thân và tương lai của đất nước. Với các con, bà Kha là một người mẹ mẫu mực, tuyệt vời. Thủ tướng Lý Hiển Long từng kể trong nhiều cuộc nói chuyện trước công chúng: “Khi chúng tôi còn nhỏ, mẹ tôi là một luật sư bận rộn. Nhưng thay vì ăn trưa với khách hàng, hôm nào bà cũng về nhà ăn cơm với chúng tôi, chăm sóc và bảo ban anh em tôi chu đáo”.
Người mẹ mẫu mực
Trong sự nghiệp chính trị của mình, ông Lý thừa nhận bà Kha là “một tòa tháp sức mạnh”. Suốt 31 năm ông làm thủ tướng (1959 – 1990), bà lặng lẽ làm người hỗ trợ đắc lực trong quan hệ đối nội lẫn đối ngoại của ông: “Bà ấy giúp tôi hàng đống công việc, giúp tôi tiết kiệm được rất nhiều thời gian, như sửa bản thảo các bài diễn văn mà tôi sắp phát biểu, sửa đề cương tôi sẽ trình trước Quốc hội hoặc trả lời phỏng vấn. Bà ấy quen thuộc với ngôn ngữ của tôi nên dễ dàng đoán ra từ ngữ tôi dùng mà các nhân viên tốc ký của tôi không thể lần ra được”.
Trong các chuyến công cán cùng chồng, bà Chi tiếp xúc với phu nhân của các chính khách mà ông Lý gặp gỡ. Sau đó, bà đưa ra nhận định khá chính xác về vị chính khách thông qua cách hành xử và giao tiếp của vợ ông ta. “Bà ấy có một trực giác rất tinh anh khi đánh giá một con người. Trong khi tôi đưa kết luận dựa trên phân tích và lý lẽ, thì bà ấy lại dựa vào cảm giác mà bà cảm nhận được đằng sau nụ cười, những lời nói thân tình, nét mặt, và ngôn ngữ cơ thể của người đối diện”, ông Lý viết.
Trong những lần thăm Trung Quốc, sau một ngày làm việc bận rộn, ông bà trở về phòng khách sạn và đem những cuốn băng ghi âm các cuộc tiếp xúc ra nghe lại. Khi đó, bà Kha giảng giải cho chồng hàm ý trong từng từ ngữ, từng cử chỉ mà các lãnh đạo Trung Quốc thể hiện, bởi bà rất giỏi tiếng Hoa và hiểu sâu sắc văn hóa Trung Quốc.

Nội tướng thâm hậu
Ông Lý cũng tiết lộ rằng, khi ông đàm phán để sát nhập Singapore với Malaysia vào năm 1962, bà Kha đã dự cảm được một kết cục không như mong muốn, nhưng ông không nghe theo. Thực tế đã chứng minh bà đúng: Sau 2 năm nhập chung, ngày 9.8.1965, Singapore buộc phải tách khỏi Malaysia…

Bóng tà
Tôi gặp bà Kha Ngọc Chi lần duy nhất vào ngày 11.1.2008 tại Trung tâm hội nghị Suntec. Ở tuổi 87 và từng trải qua bao cơn bạo bệnh, bà vẫn theo chồng đến dự buổi đối thoại về tuổi già. Khi đó bà đã yếu rồi, bước đi phải có người dìu đỡ. Ông Lý cũng yếu, dù không cần người dìu, nhưng mỗi bước ông đi, 2-3 cận vệ luôn kèm sát. Ngồi ở hàng ghế cử tọa, bà nhìn ông ở trên sân khấu và móm mém cười mỗi khi ông nhắc đến chuyện nhà. Đó có lẽ là lần cuối cùng bà xuất hiện trước công chúng, trước khi ngã bệnh liệt giường sau đó đúng 4 tháng.
Ba thế hệ quây quần đêm giao thừa thiên niên kỷ
Trong cuộc đối thoại ngày 11.1.2008, ông Lý nói rằng: “Mẹ tôi mất ở tuổi 74 vì đột quỵ. Ba tôi mất ở tuổi 94. Vì vậy, tôi tính toán mình có thể ra đi trong khoảng 74 đến 94 tuổi. Nhưng tôi đã nhỡ mất cái hạn 74 rồi! Hạn tiếp theo sẽ là 87, ba tôi ngã bệnh ở tuổi đó”. Ông Lý vừa bước sang tuổi 87 được nửa tháng.Lý Quang Diệu – Kha Ngọc Chi rồi sẽ ra đi, nhưng câu chuyện tình đẹp đẽ của họ sẽ mãi mãi được ghi nhớ.
Biệt ly
Tôi viết xong và gửi về Việt Nam loạt bài 4 kỳ này vào sáng thứ Bảy 2.10.2010. Chiều đó, bà Kha Ngọc Chi đã vĩnh viễn ra đi.
Tôi lại đến với bà đây !
29.9, ngay trước kỷ niệm 60 năm ngày cưới chính thức, ông Lý phải nhập viện vì bị viêm phổi. 5 giờ 40 phút chiều 2.10, bà Kha Ngọc Chi nhẹ nhàng trút hơi thở cuối cùng tại nhà bên cạnh con gái Vỹ Linh. Lúc đó, ông Lý Quang Diệu vẫn nằm trong bệnh viện; con trai út Hiển Dương đến thăm mẹ buổi sáng và đã ra về; con trai cả, Thủ tướng Lý Hiển Long, vừa đến thành phố Antwerp, Vương quốc Bỉ, để dự Hội nghị Á-Âu (ASEM8). Thủ tướng Lý đã bay về nước ngay trong đêm. Khoảng 15,000 người đã đến viếng linh cữu bà Kha quàn tại biệt thự Sri Temasek - vốn dành cho gia đình thủ tướng nhưng không ai ở - nằm ngay trong dinh thự Istana trong hai ngày 4-5.10. Đêm 4.10, sau khi khách đã ra về hết, ông Lý bước từng bước chậm chạp đến bên bà. Gần như bất động, ông đứng nhìn vào bức ảnh đặt ở chân quan tài trong vòng chừng 1 phút, rồi quay đi. Trông ông yếu hơn hẳn hôm 1.10 khi tiếp Tổng giám đốc Hiệp hội hàng không quốc tế Giovanni Bisignani ngay tại Bệnh viện đa khoa Singapore. Người ta đang lo lắng cho sức khỏe của ông Lý sau sự mất mát này.Chiều 6.10, linh cữu bà Kha Ngọc Chi được đưa về nhà hỏa táng Mandai bằng quân xa dành cho lãnh đạo cao cấp, dù đám tang bà không được theo chế độ quốc tang. Ông Lý Quang Diệu, 3 người con, con gái đầu của Lý Hiển Long – Lý Tú Kỳ, con trai trưởng của Lý Hiển Dương – Lý Sinh Vũ lần lượt đọc điếu văn ngợi ca và tiễn biệt người vợ, người mẹ, người bà của họ.
Ông Lý kết thúc điếu văn bằng một câu mà không ai cầm được nước mắt: “Tôi thấy an ủi rằng bà ấy đã sống một cuộc đời 89 năm đầy ý nghĩa. Nhưng trong giây phút biệt ly cuối cùng này, trái tim tôi nặng trĩu buồn đau”. Người ta không thấy nước mắt ở người đàn ông 87 tuổi này.
Hãy đợi tôi ở Suối Vàng! Các con sẽ hòa chung tro cốt của chúng ta.
Trước khi nắp quan tài được đóng lại để đưa lên giàn hỏa táng, ông Lý nhoài người đặt lên ngực vợ một bông hồng đỏ, và bước thêm mấy bước đến gần hơn, tay trái bấu vào thành quan tài, tay phải đặt lên môi, rồi rướn người đặt các đầu ngón tay lên trán bà. Ông lặp lại nụ hôn biểu tượng đó thêm một lần nữa rồi khó nhọc đứng thẳng dậy, quay người đi.
THỤC MINH

( Nhận từ Connie Duong )

CÁI MÁY BƠM


Một chàng trai bị lạc giữa một sa mạc rộng lớn. Anh mệt lã và khát khô, sẵn sàng đánh đổi bất kỳ cái gì chỉ để lấy một ngụm nước mát. Đi mãi đi mãi, đến khi đôi môi anh đã sưng lên nhức nhối, thì thấy một căn lều: cũ, rách nát, không cửa sổ.
Anh nhìn quanh căn lều và thấy ở một góc tối có một cái máy bơm nước cũ và gỉ sét. Tất cả mọi thứ trở nên lu mờ đi bên cạnh cái máy bơm, anh vội vã bước tới, vịn chặt tay cầm, ra sức bơm. Nhưng không có một giọt nước nào chảy ra cả.
Thất vọng, anh nhìn quanh căn lều. Lúc này, anh chàng mới để ý thấy một cái bình nhỏ. Phủi sạch bụi cát trên bình, anh đọc được dòng chữ nguệch ngoạch viết bằng cách lấy viên đá cào lên:

"Hãy đổ hết nước trong bình này vào cái máy bơm. Và trước khi đi, hãy nhớ đổ nước đầy vào chiếc bình này".
Anh bật nắp bình ra, và đúng thật: trong bình đầy nước mát. Bỗng nhiên, anh bị rơi vào một tình thế bấp bênh. Nếu anh uống ngay chỗ nước trong bình, chắc chắn anh có thể sống sót. Nhưng nếu anh đổ hết nước vào cái máy bơm cũ gỉ, có thể nó sẽ bơm được nước trong lành từ sâu trong lòng đất – rất nhiều nước.
Anh cân nhắc khả năng của cả hai sự lựa chọn nên mạo hiểm rót nước vào máy bơm để có nguồn nước trong lành, hay uống nước trong cái bình cũ và coi như không đọc được lời chỉ dẫn? Dù sao, lời chỉ dẫn không biết đã ở đó bao lâu rồi và không biết có còn chính xác nữa không?
Nhưng rồi cuối cùng, anh cũng quyết định rót hết nước vào cái máy bơm, rồi tiếp tục nhấn mạnh cái cần máy bơm, một lần, hai lần... chẳng có gì xảy ra cả! Tuy hoảng hốt, nhưng nếu dừng lại, anh sẽ không còn một nguồn hy vọng nào nữa, nên anh tiếp tục kiên trì bơm lần nữa, lần nữa... nước mát trong lành bắt đầu chảy ra từ cái máy bơm cũ kỹ. Anh vội vã hứng nước vào bình và uống.
Cuối cùng anh hứng nước đầy bình, để dành cho người nào đó không may mắn bị lạc đường như anh sẽ đến đây.
Anh đậy nắp bình, rồi viết thêm một câu dưới dòng chữ có sẵn trên bình:
"Hãy làm theo chỉ dẫn trên. Bạn cần phải cho trước khi bạn có thể nhận".
( Internet)
 Trong căn phòng nhỏ ở Huế,mặc dù đã khuya anh vẫn cần mẫn tải hình vào Blog...